Yêu ngôi nhà không hoàn hảo

Bài dự thi số 244

Yêu ngôi nhà không hoàn hảo

Trời nhá nhem tối, cái mờ mịt khi ấy cũng không che giấu nổi bóng dáng của đứa trẻ độ mười hai, mười ba trên con đường vắng. Nó bước đi thật nhanh, thật gấp rút. Đôi mắt nó không ngừng ngó nghiêng để dò tìm sự xuất hiện của ai khác. Đứa trẻ đang sợ hãi và cố lẩn trốn. Theo ngay sau nó vài mét là một gã đàn ông với những bước chân loạng choạng, tay dắt chiếc xe đạp cà tàng, miệng không ngừng lẩm bẩm. Trông gã như một kẻ say, một kẻ say nghèo khổ. Hai người cứ đi như thế cho đến khi có tiếng chó vẳng lại phía xa xa, gã đàn ông kia mới thôi đi sau đứa trẻ. Hắn vội vàng đi trước một đoạn, dừng lại ở cái cổng, nơi có con chó đang đứng sủa. Gã dọa con chó sợ chạy vào trong, chửi lớn:

-  Nhà có con chó dữ mà ra vào không có ý tứ, cái cổng cứ mở toang hoang ra để khoe nhà, khoe của à, bắt tội ông đây phải hầu, phải hạ, phải tốn hơi, tốn sức dạy chó, dạy chủ.

Đứa trẻ vẫn bước đi khẩn trương, cẩn trọng. Lần nữa, nó đi lên phía trước. Bỗng nó dừng lại. Nó mất vài giây để nhìn cảnh “cãi vã” của một gã say với một con chó, vài giây nhìn bóng đèn đường chập chờn, vài giây nhìn con đường tăm tối phía trước. Trong mấy cái vài giây ấy, nó đã sợ hãi, trầm tư và tuyệt vọng. Nó đi tiếp, người đàn ông lập tức theo sau. Bóng tối dần dà nuốt trọn cả hai người.

Đứa trẻ cuối cùng đã về đến nhà. Ngôi nhà cấp bốn nó ở nhỏ và cũ nát. Thấy nó về, một người phụ nữ tiến đến, ân cần hỏi:

-  Bố đâu con, lại rẽ đâu rồi à?

Bà vừa dứt lời, tiếng “cạch” lớn vang lên ngoài sân. Đó là tiếng dựng chân chống xe của gã say vừa nãy. Người phụ nữ lập tức thay đổi thái độ:

-  Giời ơi, suốt ngày say xỉn, sao ông không nằm vạ ở cái xó xỉnh nào ngoài đường luôn đi, về đày đọa vợ con à? Khổ cái thân tôi không?

Gã đàn ông vẫn lẩm bẩm một mình. Nhưng chỉ một mình người phụ nữ cũng đủ làm cho căn nhà ầm ĩ. Bà hết chửi rủa, rồi lại than thân, trách trời. Như một thói quen, đứa trẻ lặng lẽ đi xuống bếp dọn cơm, chẳng mảy may quan tâm. Nó biết rằng căn nhà chỉ yên tĩnh trở lại khi tất cả đã yên vị bên mâm cơm.

Những điều này chẳng còn lạ lẫm gì với đứa trẻ, với gã say, với người phụ nữ. Ngày nào, người ta cũng nhìn thấy hai kẻ với dáng đi kỳ lạ trên con đường vắng, cũng nghe được tiếng trách chồng chua ngoa của người vợ nào đó.

“Đúng vậy”, gã say và người phụ nữ trách chồng kia chính là bố, mẹ của đứa trẻ. Nhưng đứa trẻ có vẻ không muốn làm con của họ. Cũng thật khó để trách nó, mấy ai muốn một người bố hay say xỉn, một người mẹ hay cằn nhằn và một cảnh sống thiếu thốn, khó khăn. Đứa trẻ luôn từ trường về nhà lúc trời nhá nhem tối bởi nó phải đợi thầy cô, bạn bè về hết, luôn chọn đường vắng và bước thật nhanh vì muốn né tránh mọi người, luôn đảo mắt xung quanh để có thể kịp thời ẩn nấp nếu ai đó xuất hiện. Nó muốn giấu người bố này với cả thế giới. Đứa trẻ cũng đôi lần có chút hiểu nỗi lòng của mẹ khi có người chồng như bố nó. Nó hiểu, nhưng không thể cảm thông. Người mẹ làm cuộc sống của nó thêm nặng nề, chật trội, ngột ngạt. “Ừ”, nó cũng không muốn khoe với ai về người mẹ của mình.

Bỗng một ngày, nó thay đổi. Đó là cái ngày đầu tiên nó phải mang cơm cho bố. Bố nó đi làm mà quên hộp cơm, mẹ nó cũng phải đến xưởng may, nó là người duy nhất rảnh dỗi. Trước khi đi, mẹ nó dặn dò kĩ:

-  Đến giờ cơm, độ trưa ấy, nhớ cầm cơm cho bố con nhớ, không bố lại đói, khổ thân.

Nó muốn từ chối lắm nhưng cuối cùng vẫn đồng ý. Trưa đến, nó lại phải bắt đầu hành trình vất vả từ nhà cho đến ngã tư lớn. Bố nó bán trái cây ở đấy, một sạp nhỏ thôi nhưng gã toàn ở thông trưa và ra về vào lúc tan tầm. Người ta chỉ ghé mua khi đường vắng chứ lúc đường đông người ta chỉ bận bon chen. Thời gian làm việc như thế nên lão luôn đứng sẵn ở cổng trường đợi đứa trẻ tan học rồi bám đuôi.

Đứa trẻ đến ngã tư rồi. Cái nắng, cái nóng mùa hè làm nó thấm mệt. Nó phải đợi lão kỳ kèo vài ba nghìn với một vị khách rằng “mười hai không được, mười lăm mới bán” rồi mới có thể đưa hộp cơm mà ra về. Trong lúc đợi chờ, lần đầu tiên nó nhìn ngắm lão kĩ càng đến thế. Hóa ra không phải lúc nào lão cũng say, lão chỉ say khi trời ngả bóng. Hóa ra lão không phải chỉ biết gây chuyện, lão cũng là người đàn ông phải mưu sinh. Nhưng cuộc mưu sinh của lão vất vả quá. Lão phải vật lộn giữa nắng gắt để gom nhặt từng nghìn. Đôi tay gây guốc nâng niu từng quả táo, quả cam, đôi mắt nheo lại nhìn chiếc kim đồng hồ bé tý. Mồ hôi lăn dài trên hõm má gầy, rám đen. Lão đưa tay áo quệt ngang. Cái áo chẳng thể nhìn rõ màu, ngả vàng và lộ rõ những đường chỉ vá vội. Đứa trẻ có chút chạnh lòng.

Vị khách rời đi. Người đàn ông giờ mới để ý thấy đứa trẻ. Lão cầm lấy hộp cơm, nhét vào tay nó tờ hai mươi nghìn, gắt gỏng:

-  Về ngay, cầm tiền ra kia mua chai nước vừa đi vừa uống, ốm ra đấy lại mệt tao.

Đứa trẻ không nán lại lâu. Nó vừa đi, vừa quay lại nhìn. Gã vẫy vẫy tay, ra hiệu bảo nó đi tiếp. Lần đưa cơm này khiến nó băn khoăn. Ông trời bất công cho bố nó một chân bị tật nên ông cứ phải đi cà nhắc, loạng choạng. Thời ấy, thói đời hay khinh khi, cười cợt kẻ bất hạnh nên ông chấp nhận để người ta gọi là “kẻ say” hơn là “tên què”. Chẳng ai thuê mướn, ông đành thiêu mình dưới cái nắng. Còn mẹ nó, bà phải quần quật làm việc nơi xưởng may bụi bặm, nơi những công nhân như bà chưa bao giờ được tôn trọng. Một vai bà gánh nỗi lo cơm áo, một vai gánh chuyện lo toan gia đình. Áp lực dồn nén nên bà mới hay than thở.

“Phải”, trước giờ đứa trẻ chỉ nhìn thấy những điều đáng trách của bố mẹ, nên nó cũng mặc nhiên phủ nhận bao điều tốt đẹp trong họ. Dẫu què, dẫu say, ông vẫn hoàn thành tốt trách nhiệm làm cha, làm chồng. Đồng tiền ông kiếm ra khó nhọc, nhưng nào tiếc gì với con. Ông vẫn hàng ngày quan tâm, đón đưa nó về. Mẹ nó hay học hằn, nhưng với nó lại dịu dàng, ân cần. Bà có cái miệng chua ngoa còn cái tâm, cái tính lại tốt. Chẳng có bữa cơm nào bà không nấu, chẳng có việc nào bà không lo toan. Bố mẹ nó đều không hoàn hảo, song tình yêu thương dành cho nó luôn là hình tròn vẹn nguyên. Nếu đứa trẻ có thể nhận ra sớm hơn, nó đã không phải sống mệt mỏi như nó đã từng.

Ngày hôm đó vẫn diễn ra như thường lệ, bố nó vẫn say, mẹ nó vẫn cằn nhằn, nhưng đứa trẻ đã khác. Đêm ấy, trời đổ mưa to, tiếng “tách tách” từ mấy cái chậu hứng nước trong nhà không ngừng vang lên. Đứa trẻ nằm trên giường, lòng yên bình lắm. Nó thấy mình thật may mắn, may mắn vì nó vẫn có “nhà”. Ừ thì ngôi nhà bị dột, nhưng nó cũng đâu bị ướt.

Những ngày sau đấy, người ta không còn thấy đứa trẻ và gã say đi trên con đường vắng lúc trời nhá nhem tối nữa...